Chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số cần được kết hợp với nhiều giải pháp đồng bộ khác

Đề cập về chính sách, pháp luật về đất đai của vùng DTTS, ông Triệu Văn Bình, Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc, nêu quan điểm: Việc triển khai chính sách đất đai cho đồng bào DTTS cần được kết hợp với nhiều giải pháp đồng bộ khác như đầu tư đồng bộ về cơ sở hạ tầng, thủy lợi, kỹ thuật sản xuất…


Tại Hội thảo “Chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam – Một số tồn tại, hạn chế và những khuyến nghị”, do Hội đồng Dân tộc và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức vừa qua, đề cập về chính sách, pháp luật về đất đai của vùng dân tộc thiểu số (DTTS), ông Triệu Văn Bình, Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc (Văn phòng Quốc hội), cho biết, Việt Nam có 54 thành phần dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số với dân số 14,119 triệu người, chiếm 14,7% dân số cả nước. Đồng bào các DTTS cư trú thành cộng đồng ở 5.266 đơn vị hành chính cấp xã, 548 huyện, 51 tỉnh, thành phố. Địa bàn cư trú của các DTTS phần lớn là miền núi, chiếm ¾ diện tích cả nước, chủ yếu tập trung ở vùng miền núi, trung du phía Bắc, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và khu vực Nam Bộ. Đây là những địa bàn có vị trí chiến lược, quan trọng về chính trị, an ninh - quốc phòng và tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Nhưng cũng là vùng có cấu tạo địa chất, tự nhiên phức tạp, có độ dốc cao, chia cắt, cơ sở hạ tầng khó khăn, tập trung chủ yếu là các xã nghèo, huyện nghèo và người nghèo.


Theo Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc, hầu hết đồng bào các DTTS có sinh kế gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và đây là sinh kế chính và quan trọng nhất (khoảng trên 90% lao động người dân tộc thiểu số sinh sống bằng nghề nông). Vì thế, đất đai (đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng…) là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với cuộc sống của đồng bào DTTS.


Ông Triệu Văn Bình, Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc, Hội đồng Dân tộc.


Cộng đồng các DTTS số sinh sống gắn với rừng từ ngàn đời, có những bản sắc văn hóa và phong tục tập quán riêng, theo từng vùng. Trong đó, nhiều tập tục có giá trị rất lớn trong việc bảo tồn và phát huy rừng. Rừng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của đồng bào DTTS. Rừng vừa là địa bàn cư trú, vừa là sinh kế đồng thời cũng có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần, nơi sinh hoạt cộng đồng của các dân tộc. Rừng là một phần không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóa, tâm linh; không gian văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số gắn bó mật thiết với rừng, có những dân tộc thiểu số tự gọi tên dân tộc mình gắn liền với rừng. Đặc biệt, các yếu tố cấu thành tổ hợp Đất – Rừng – Nước là môi trường lưu giữ, vun đắp, làm nên bản sắc văn hóa phong phú, đa dạng của đồng bào các dân tộc Việt Nam. Ðồng bào dân tộc thiểu số ở vùng rừng núi, là những người dân sinh ra từ rừng, đồng bào thường nói "rừng là cha, đất là mẹ, đất và rừng nuôi người, sống rừng nuôi, chết rừng chôn".


Theo Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc Triệu Văn Bình, Nghị quyết 24/NQ-TW năm 2003 đã nhìn nhận và chỉ ra tình trạng du canh, du cư, di cư tự do còn diễn biến phức tạp. Một số hộ còn thiếu đất sản xuất; kinh tế lâm nghiệp chuyển biến chậm, chính sách đối với lâm nghiệp chưa thật sự bảo đảm cho người dân sống và gắn bó với nghề rừng… Vì vậy, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và vấn đề tranh chấp đất đai ở vùng DTTS được xác định là một trong những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách. Nghị quyết đã đề ra mục tiêu đến năm 2010 phải hoàn thành cơ bản công tác định canh, định cư; chấm dứt tình trạng di cư tự do; giải quyết cơ bản vấn đề đất sản xuất cho nông dân thiếu đất; ngăn chặn tình trạng suy thoái môi trường sinh thái…


Nghị quyết số 19/NQ-TW ngày 31/10/2012 Ban chấp hành Trung ương Khóa XI đã ban hành về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Về giải quyết đất đai cho đồng bào DTTS, Nghị quyết nêu rõ “... sớm có giải pháp đáp ứng nhu cầu đất sản xuất và việc làm cho bộ phận đồng bào DTTS không có đất sản xuất”.


Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đã chỉ rõ: … “Vai trò đặc biệt quan trọng của rừng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái…”; “Gắn mục tiêu bảo vệ, phát triển rừng với hỗ trợ phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập, bảo đảm đời sống, việc làm, an sinh xã hội cho người dân địa phương, đồng bào dân tộc miền núi, biên giới, nhất là cho người dân làm nghề rừng”.


Kết luận số 65-KL/TW, ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới, đã nêu nhiệm vụ tập trung giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt; đẩy nhanh việc hoàn thành các dự án định canh, định cư. Mục tiêu giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở cho đồng bào DTTS vào năm 2025.


Những chính sách, pháp luật do Quốc hội ban hành


Luật Đất đai (sửa đổi 2013) Điều 27 quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước về đất ở, đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào DTTS phù hợp với phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng, đồng thời có chính sách tạo điều kiện cho đồng bào DTTS trực tiếp sản xuất nông nghiệp có đất để sản xuất. Luật cũng quy định đối với quỹ đất thu hồi của các tổ chức đang sử dụng đất nông nghiệp sẽ được ưu tiên để giao đất, cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân là DTTS không có đất hoặc thiếu đất sản xuất. Quy định về điều kiện chuyển nhượng, tặng cho đối với hộ gia đình, cá nhân là người DTTS sử dụng đất do Nhà nước giao đất theo chính sách hỗ trợ của Nhà nước.


Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc Triệu Văn Bình cũng nêu sõ: Luật Lâm nghiệp năm 2017 (khoản 6, Điều 4) đã quy định: “Nhà nước bảo đảm cho đồng bào DTTS, cộng đồng dân cư sinh sống phụ thuộc vào rừng được giao rừng gắn với giao đất để sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; được hợp tác, liên kết bảo vệ và phát triển rừng với chủ rừng, chia sẻ lợi ích từ rừng; được thực hành văn hóa, tín ngưỡng gắn với rừng theo quy định của Chính phủ”. Nguyên tắc khi tiến hành giao rừng, phải ưu tiên giao rừng cho đồng bào DTTS, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có phong tục, tập quán, văn hóa, tín ngưỡng, truyền thống gắn bó với rừng, có hương ước, quy ước phù hợp với quy định của pháp luật. Đây là vấn đề mà cử tri, đồng bào DTTS đặc biệt quan tâm; là cơ sở để các cấp, các ngành phải đặc biệt chú trọng đến đối tượng ưu tiên này, khắc phục những vấn đề tồn tại trước đây, để chính sách thực sự đi vào cuộc sống.


Nghị quyết số 112 /2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội về Tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác sử dụng, tại khoản 2, Điều 2 quy định: “Tiếp tục rà soát, thu hồi diện tích đất sử dụng không hiệu quả, sử dụng không đúng mục đích và giao lại cho địa phương để giao cho người dân, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu hoặc không có đất ở, đất sản xuất ở địa phương quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai”.


Toàn cảnh Hội thảo “Chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam – Một số tồn tại, hạn chế và những khuyến nghị”.


Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội Phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 đặt ra mục tiêu đến năm 2025: “Hoàn thành cơ bản công tác định canh, định cư; sắp xếp, bố trí ổn định 90% số hộ di cư không theo quy hoạch. Quy hoạch, sắp xếp, di dời, bố trí 60% số hộ dân tộc thiểu số đang cư trú phân tán, rải rác trong rừng đặc dụng, các khu vực xa xôi, hẻo lánh, nơi có nguy cơ xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở. Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất cho đồng bào”.


Các chính sách của Chính phủ


Giải quyết tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều văn bản, trong đó có một số văn bản đáng chú ý. Đó là Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp và các quy định của Luật Đất đai;


Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn;


Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ Về chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào DTTS giai đoạn 2007-2010 và Quyết định 1342/QĐ-TTg;


Quyết định số 755/2013/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn;


Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 Phê duyệt Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 - 2020. Trong đó đã nêu mục tiêu cụ thể là giải quyết đất sản xuất, chuyển đổi nghề cho trên 80% số hộ đồng bào DTTS nghèo, hộ nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn thiếu đất sản xuất…


Một số kết quả đạt được


Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc Triệu Văn Bình cho rằng, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đã tạo hành lang pháp lý quan trọng giải quyết chính sách về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào DTTS nói riêng và 25 triệu dân nông thôn miền núi nói chung, với mục tiêu giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở.


Theo đó, giai đoạn từ năm 2003 đến 2016 đã hỗ trợ đất ở cho hơn 93.600 hộ, đất sản xuất cho trên 107.800 hộ gia đình người DTTS. Kết quả này có ý nghĩa rất quan trọng, giải quyết hàng trăm ngàn hộ đồng bào DTTS nghèo, không có đất ở, nhà ở, không có hoặc thiếu đất sản xuất. Nhiều hộ đồng bào nghèo, du canh, du cư, di cư tự do, sinh sống trong vùng thiên tai, nguy hiểm… từng bước có cuộc sống ổn định và nâng cao đời sống, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.


Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc giải quyết đất đai vẫn còn tồn tại những hạn chế. Đó là tình hình khiếu kiện, tranh chấp đất đai còn diễn biến khá phức tạp, tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai giữa các hộ cá nhân với nhau, giữa hộ cá nhân với các công ty nông, lâm nghiệp diễn ra ở nhiều địa phương. Tại 5 tỉnh Tây Nguyên còn nhiều hộ thiếu đất sản xuất (chủ yếu là hộ DTTS, di cư tự do); đời sống của một bộ phận đồng bào DTTS còn rất nhiều khó khăn, còn nhiều hộ DTTS di cư tự phát cần sắp xếp, bố trí ổn định, còn nhiều hộ thiếu đất sản xuất, thiếu đất ở...


Chính sách về đất ở, đất sản xuất cần được tiếp tục kết hợp với nhiều giải pháp đồng bộ khác


Trước những tồn tại, hạn chế trên, Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc Triệu Văn Bình nêu quan điểm: Cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung quy định của pháp luật về đất đai cho người dân tộc thiểu số. Theo đó, đối với Luật Đất đai năm 2013, hiện đã có một điều riêng (Điều 27) có nội dung quy định về đất đai cho đồng bào DTTS. Tuy nhiên cần bổ sung, chỉnh sửa cụ thể hơn nữa, có nội dung liên quan đến việc: Thu hồi đất của các nông lâm trường quốc doanh hoạt động kém hiệu quả để giao cho các hộ gia đình và cộng đồng DTTS có nhu cầu và có khả năng sản xuất nông nghiệp tại địa phương. Bên cạnh đó là đảm bảo đất đai (đất ở và đất sản xuất) trong bồi thường và tái định cư khi thu hồi đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia và lợi ích công cộng; có cơ chế quy định, thỏa thuận, quyền của người DTTS khi thu hồi; có cơ chế, quy định về tỉ lệ tái đầu tư cho cộng đồng DTTS khi đất đai của họ bị thu hồi, sử dụng cho các mục đích khác của nhà nước và tư nhân.


Ngoài ra, cần sửa đổi một số vấn đề còn bất cập, chồng chéo, chưa thống nhất liên quan đến vấn đề giao đất, giao rừng được quy định trong Luật Đất đai, Luật Lâm nghiệp, Luật Dân sự…. theo hướng: Công nhận cộng đồng dân cư là chủ rừng có quyền lợi và nghĩa vụ như các chủ rừng khác; công nhận diện tích rừng thiêng, rừng tâm linh, rừng đầu nguồn nước… gắn với phong tục tập quán, tín ngưỡng, văn hóa của các dân tộc là đất tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc giống như đất đền chùa, nhà thờ, miếu mạo…


Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc Triệu Văn Bình cũng cho rằng, việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả các chính sách của Chính phủ trong việc triển khai thực hiện các chính sách về đất đai cho đồng bào các DTTS cũng cần được chú trọng. Mặc dù Chính phủ đã có nhiều chính sách về giải quyết đất đai đối với đồng bào các DTTS nhưng hiện tại vẫn còn nhiều hộ thiếu đất ở, đất sản xuất. Việc triển khai chính sách về đất ở, đất sản xuất cần được tiếp tục triển khai thực hiện, kết hợp với nhiều giải pháp đồng bộ khác như chuyển đổi nghề, tìm kiếm các cơ hội việc làm phi nông nghiệp. Cùng với chính sách về đất đai, cần đầu tư đồng bộ về cơ sở hạ tầng, thủy lợi, kỹ thuật sản xuất. Các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề đi kèm với hỗ trợ về nguồn vốn, tìm đầu ra cho sản xuất. Định mức hỗ trợ phù hợp với đặc thù từng vùng, miền, địa phương.


Chính phủ cũng cần đánh giá kết quả giao đất, giao rừng cho đồng bào DTTS thời gian qua, chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất giải pháp để thực hiện tốt công tác giao đất, giao rừng; Tiến hành thanh tra, kiểm tra tình hình thực hiện của các địa phương, trên cơ sở đó có chế tài xử lý đối với những địa phương chậm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước. Ngoài ra còn nghiên cứu sửa đổi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng nhằm khắc phục tình trạng chênh lệch quá lớn phí dịch vụ môi trường được hưởng trên một ha giữa các vùng, các khu vực.


Theo Cổng Thông Tin Điện Tử Quốc Hội Việt Nam