Quyền tiếp cận thông tin trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư


PGS.TS. PHAN TRUNG HIỀN

Phó trưởng Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ


Tóm tắt: Thu hồi đất ở Việt Nam là một quá trình dịch chuyển quyền sử dụng đất bắt buộc từ người sử dụng sang Nhà nước, thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở địa phương. Trong trường hợp thu hồi đất mà không do lỗi của người sử dụng đất, điển hình là trường hợp vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, cộng cộng, thì vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được đặt ra. Để bảo đảm cân bằng lợi ích giữa các bên: Nhà nước, chủ đầu tư và người dân có đất bị thu hồi, bảo đảm tính dân chủ, thực thi quyền giám sát của người dân có đất bị thu hồi, việc tiếp cận thông tin trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là rất quan trọng.


Từ khóa: Tiếp cận thông tin đất đai, công khai thông tin đất đai, giám sát trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.


Abstract: Land acquisition in Vietnam is a process of unvolutary transfers of the land use rights from land users to the government, through local administration agencies. In the case of land acquisition without any faults of the land users, typically the case for national defence and public security purposes; for socio-economic developments for the benefits of the nation and the community, the concerns on the compensations, assistance and resettlement shall be settled. It is very important to access information in land acquisition direction, the compensation, the assistance and the resettlement so that it is to ensure the balance of interests among the parties: the government, the investors and the people whose land is acquired and also to ensure the democracy, exercise the right of supervision of people with recovered land.


Keywords: Access to land information; publication of land information; supervision of land acquisition; compensation; assistance; resettlement.


Nguồn ảnh: Internet


Trong các trường hợp thu hồi đất ở Việt Nam thì trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, cộng cộng là trường hợp thu hồi đất gây nhiều bất đồng, khiếu nại, khiếu kiện, kể cả những trường hợp cưỡng chế gay go, có khả năng trở thành điểm nóng. Sở dĩ như vậy là vì đây là trường hợp thu hồi đất có bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, có đất và tài sản gắn liền với đất cần được xác định tính pháp lý và xác định giá. Sự đồng thuận chỉ diễn ra khi việc thu hồi đất “phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật” (Khoản 3 Điều 54 Hiến pháp năm 2013). Để đạt được các yêu cầu này, cần phải quy định và thực hiện nghiêm túc các quy định về quyền tiếp cận thông tin (TCTT) trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.


1. Cơ sở pháp lý của quyền tiếp cận thông tin trong trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư


Quyền TCTT trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở Việt Nam được quy định và đảm bảo cơ sở pháp lý sau:


Thứ nhất, quyền TCTT là một quyền hiến định có tính kế thừa. Ở Việt Nam, công khai thông tin và TCTT được ghi nhận từ Hiến pháp năm 1992: “Công dân có quyền được thông tin” (Điều 69). Kế thừa quy định này, Điều 25 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, TCTT, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Như vậy, TCTT là một quyền hiến định được quy định trong Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” của Hiến pháp năm 2013. Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 54 Hiến pháp năm 2013 quy định việc thu hồi đất “phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật”. Rõ ràng, không chỉ quyền TCTT nói chung là một quyền, mà quyền TCTT trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cũng được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam. “Công khai, minh bạch” trong thu hồi đất là những yêu cầu có tính tiên quyết để người dân thực hiện quyền TCTT trong quá trình thu hồi đất. Ở một phương diện khác, điều này hoàn toàn phù hợp với bối cảnh chung của luật pháp các quốc gia tiên tiến.


Thứ hai, Luật TCTT bảo đảm quyền được TCTT trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Điểm g khoản 1 Điều 17 Luật TCTT quy định: “...thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giá đất; thu hồi đất; phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn” phải được công khai. Điều này cho thấy, quyền TCTT trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư là một trong những nội dung quan trọng, thiết yếu của quyền TCTT ở Việt Nam. Ngoài ra, với phương châm “dân bàn, dân làm và dân kiểm tra”, Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 quy định những nội dung công khai bao gồm: “Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã”. Điều này cho thấy, mặc dù có sử dụng những cụm từ khác nhau, song các quy định có liên quan đều yêu cầu phải công khai thông tin liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư - điều kiện có tính chất tiên quyết để thực hiện quyền TCTT trong lĩnh vực này.


Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cũng quy định rất rõ cơ chế để giám sát việc TCTT ở địa phương: “Hàng năm, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã có trách nhiệm tổ chức ít nhất một lần hội nghị trao đổi, đối thoại với Nhân dân ở địa phương về tình hình hoạt động của UBND và những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân ở địa phương; trường hợp quy mô đơn vị hành chính cấp xã quá lớn, có thể tổ chức trao đổi, đối thoại với Nhân dân theo từng cụm thôn, tổ dân phố. UBND phải thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và thông báo đến Trưởng thôn, Tổtrưởng tổdân phố về thời gian, địa điểm, nội dung của hội nghị trao đổi, đối thoại với Nhân dân chậm nhất là 07 ngày trước ngày tổ chức hội nghị” (Điều 125). Quy định này mở ra cơ hội lớn về quyền được TCTT và quyền giám sát, đối thoại về thông tin được tiếp cận. Về nguyên tắc, tất cả những người dân của địa phương hoàn toàn có quyền “trao đổi, đối thoại” với chính quyền cơ sở để nắm bắt thông tin về “tình hình hoạt động của UBND” và “những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân ở địa phương”, kể cả quyền TCTT.


Thứ ba, quyền TCTT được khẳng định trong các đạo luật và văn bản dưới luật thông qua các quy định về trách nhiệm công khai của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước. Bên cạnh Luật TCTT, các văn bản khác cũng gián tiếp quy định các quyền TCTT trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Ví dụ như: Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2007, năm 2012 quy định công khai thông tin về quản lý và sử dụng đất đai, trong đó phải công khai:Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, mức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt hoặc điều chỉnh” (Khoản 3 Điều 21).


Thứ tư, Luật Đất đai ghi nhận trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp thông tin và quyền giám sát của người dân đối với việc cung cấp thông tin đất đai.Điều 28 Luật Đất đai năm 2013 quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc xây dựng, cung cấp thông tin đất đai như sau: “1. Xây dựng, quản lý hệ thống thông tin đất đai và bảo đảm quyền tiếp cận của tổ chức, cá nhân đối với hệ thống thông tin đất đai; 2. Công bố kịp thời, công khai thông tin thuộc hệ thống thông tin đất đai cho tổ chức, cá nhân, trừ những thông tin thuộc bí mật theo quy định của pháp luật; 3. Thông báo quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai cho tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp; 4. Cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong quản lý, sử dụng đất đai có trách nhiệm tạo điều kiện, cung cấp thông tin về đất đai cho tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật”. Như vậy, việc cung cấp thông tin bao gồm cả việc thông báo các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai cho tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp. Điều này có thể hiểu rằng các văn bản như thông báo thu hồi đất, quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư… đều phải được chuyển đến người dân trong khu vực có đất bị thu hồi và công khai rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.


Mặt khác, để đảm bảo quyền TCTT được thực thi, Điều 199 Luật Đất đai năm 2013 còn quy định quyền giám sát của công dân như sau: “Công dân có quyền tự mình hoặc thông qua các tổ chức đại diện thực hiện quyền giám sát và phản ánh các sai phạm trong quản lý và sử dụng đất đai (khoản 1). Trong đó, một trong những nội dung giám sát của công dân trong quản lý và sử dụng đất đai là “việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư” (điểm c khoản 3 Điều 199). Tất nhiên, một trong các nguyên tắc đặt ra như nghĩa vụ từ phía người dân là “việc giám sát và phản ánh phải bảo đảm khách quan, trung thực, đúng pháp luật” (khoản 2 Điều 199).


Tóm lại, quyền TCTT trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được gián tiếp khẳng định trong Hiến pháp, được chi tiết hóa trong Luật TCTT, được ghi nhận trong Luật Đất đai và các văn bản có liên quan đến quyền TCTT và công khai thông tin. Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm làm giảm số lượng khiếu nại, khiếu kiện bởi trên thực tế khiếu nại, khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai luôn chiếm tỷ lệ cao nhất so với khiếu nại, khiếu kiện trong các lĩnh vực quản lý nhà nước khác.


2. Quyền tiếp cận thông tin về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên thực tế và những vấn đề đặt ra


Quyền TCTT về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được phân tích theo các mức độ TCTT như: (i) Trách nhiệm cung cấp thông tin; (ii) Mức độ TCTT; (iii) Hiểu và sử dụng các quyền hợp pháp của mình thông qua thông tin đó.

Để tìm hiểu trách nhiệm cung cấp thông tin, mức độ TCTT, hiểu thông tin tiếp cận và sử dụng hợp pháp các quyền của mình, chúng tôi đã tổ chức một cuộc khảo sát 300 hộ dân có đất bị thu hồi trên địa bàn quận Ninh Kiều, quận Cái Răng và huyện Phong Điền (TP. Cần Thơ) trong thời gian từ tháng 7/2017 đến tháng 10/2017[1].


Trách nhiệm cung cấp thông tin


Điểm a khoản 1 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Thông báo thu hồi đất được gửi đến từng người có đất thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi”. Như vậy, thông báo thu hồi đất là thủ tục bắt buộc thực hiện và có tính chất tiền đề để tiến hành các bước tiếp theo như: lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và ban hành quyết định thu hồi đất. Về phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất: phải ban hành thông báo thu hồi đất, thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng và gửi đến từng hộ dân.


Khi phỏng vấn các công chức lãnh đạo Trung tâm Phát triển quỹ đất TP. Cần Thơ thì cuộc khảo sát nhận được kết quả như sau: 100% các hộ dân trong khu vực có đất bị thu hồi đều được cung cấp thông tin về thông báo thu hồi đất, cũng như được công khai thông tin về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, quyết định thu hồi đất[2]… Tuy nhiên, do các quy định của pháp luật không thống nhất nên việc cung cấp thông tin có những hạn chế nhất định, như:


Thứ nhất, về đối tượng được cung cấp thông tin, điểm a khoản 1 Điều 66 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Thông báo thu hồi đất được gửi đến từng người có đất thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi…”. Tuy nhiên, trong các văn bản quy phạm pháp luật, không có văn bản nào giải thích cụm từ “người dân trong khu vực có đất bị thu hồi” bao gồm những người nào. Có một số trường hợp, những người làm công tác giải phóng mặt bằng cho rằng đó chính là người dân có đất bị thu hồi. Điều này có thể không chính xác. Chúng tôi cho rằng, ngoài đối tượng cơ bản là người có đất bị thu hồi, nên chú ý đến các đối tượng có nguy cơ chịu ảnh hưởng từ dự án như: (i) Chịu ảnh hưởng về các công trình hạ tầng kỹ thuật như: lối đi chung, nguồn nước chung…; (ii) Chịu ảnh hưởng về về các công trình hạ tầng xã hội: trường học, công viên, trạm y tế…; (iii) Chịu ảnh hưởng trực tiếp về môi trường: nguồn nước thải, không khí thải… khi các công trình trong dự án mới đi vào hoạt động. Do vậy, đối tượng có quyền được tiếp cận thông báo thu hồi đất là rất rộng, kể cả người dân có đất bị thu hồi và những người có liên quan.


Thứ hai, trong hồ sơ thông báo thu hồi đất theo khoản 3 Điều 9 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường có nội dung cần giải thích rõ là yêu cầu về “trích đo địa chính thửa đất đối với các thửa đất nằm trong ranh giới khu đất thu hồi để thực hiện dự án”. Theo quy định tại Điều 69 Luật Đất đai năm 2013, việc đo đạc chỉ được thực hiện sau khi có thông báo thu hồi đất, do vậy việc “trích lục bản đồ địa chính thửa đất” là có thể thực hiện được nhưng “trích lục bản đồ địa chính thửa đất” là việc khó thực hiện trong thời điểm chưa có thông báo thu hồi đất. Tuy nhiên, ngay cả việc “trích lục bản đồ địa chính thửa đất” cũng không mang nhiều ý nghĩa vì thực tế cho thấy, hiện trạng sử dụng đất với bản đồ địa chính trên giấy tờ không hoàn toàn trùng khớp nhau. Điều này rõ ràng gây cản trở trong việc TCTT của người dân với 2 lý do: (i) Giữa các văn bản pháp luật không thống nhất nhau và các địa phương thực hiện không thống nhất nên việc TCTT cũng không thể được thực hiện đồng bộ ở các địa phương; (ii) Thông tin mà người dân tiếp nhận trong thông báo thu hồi đất, nếu chỉ trích lục trên bản đồ địa chính, có khả năng là thông tin thiếu chính xác do thiếu cập nhật.


Mức độ tiếp cận thông tin


Theo kết quả điều tra, phương thức thông báo thu hồi đất bằng hình thức họp dân được cho là thực hiện phổ biến nhất với 90% và có hiệu quả kế tiếp là hình thức “Thông báo bằng văn bản” với 49%, cụ thể như sau:

Biểu đồ 1. Hình thức thông báo thu hồi đất


Như vậy, trong các cách thức thông báo thu hồi đất thì người dân đặc biệt quan tâm đến hình thức họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi. Cách này bảo đảm tính công khai, minh bạch; đồng thời người dân có thể bày tỏ những nguyện vọng, thắc mắc của mình cũng như có thể lắng nghe phản hồi từ phía đại diện tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và các cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền. Mặt khác, việc công bố thông báo thu hồi đất bằng hình thức họp dân còn mang tính chất chính thức hóa về thông tin thu hồi đất[3], đảm bảo cho người dân thực hiện quyền TCTT.


Tuy nhiên, tiếp cận được thông tin và hiểu rõ được thông tin là hai việc không hoàn toàn giống nhau. Khi khảo sát về mức độ thông tin mà người bị thu hồi đất tiếp cận được từ cuộc họp thông báo thu hồi đất thì có đến đa số người dân trả lời là có tham gia cuộc họp và biết rất rõ các thông tin có liên quan (65%). Tuy nhiên, điều đáng quan ngại là 21% có tham gia nhưng không biết rõ thông tin. Mặt khác, có 2,33% trả lời là không được mời họp, nghĩa là không được TCTT. Các nội dung được minh họa bằng biểu đồ 2 dưới đây:

Biểu đồ 2. Tỷ lệ tham gia họp thông báo thu hồi đất


Trong đó, tỷ lệ tham gia cuộc họp thông báo thu hồi đất ở nông thôn và đô thị có sự chênh lệch khá rõ. Ví dụ, tỷ lệ người dân có tham gia và biết rõ thông tin về thu hồi đất ở nông thôn là hơn 80%, trong khi đó ở khu vực đô thị chỉ hơn 50% (Biểu đồ 3). Ngược lại, tỷ lệ người dân tham dự họp nhưng không nắm rõ thông tin về thu hồi đất ở đô thị (hơn 30%) lại cao hơn ở nông thôn (gần 20%).

Ngoài ra, một vấn đề đáng lưu ý là tỷ lệ người tham gia cuộc họp để TCTT là nam giới dự họp chiếm tỷ lệ cao hơn so với nữ giới lần lượt là 60% (trong đó chủ hộ trực tiếp dự họp là 52%; con trai trong gia đình, kể cả con rể là 7%) và 40% (trong đó bà chủ hộ là 32%; con gái trong gia đình, kể cả con dâu là 8%).


Hiểu thông tin tiếp cận và sử dụng hợp pháp các quyền của mình


Khoản 2 Điều 49 Luật Đất đai quy định: “Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm; nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật”. Mặt khác, khoản 2 Điều 92 Luật Đất đai năm 2013 quy định trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất là: “tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật hoặc tạo lập từ sau khi có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.


Quy định trên có thể được hiểu là, kể từ thời điểm có kế hoạch sử dụng đất và sau đó là thông báo thu hồi đất, người sử dụng đất chỉ bị hạn chế các quyền về xây dựng, cải tạo nhà ở, công trình xây dựng cũng như không được phép trồng cây lâu năm. Các văn bản quy phạm pháp luật hoàn toàn không đề cập đến việc hạn chế các quyền của người sử dụng đất trong các giao dịch dân sự liên quan đến đất như: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất (Điều 167 Luật Đất đai năm 2013).


Tuy nhiên, kết quả khảo sát lại phản ánh hoàn toàn khác biệt với những điều pháp luật quy định. Theo đó, sau khi có thông báo thu hồi đất thì có đến 83,5% người dân được phỏng vấn cho rằng, kể từ thời điểm có kế hoạch sử dụng đất và thông báo thu hồi đất thì họ không được thực hiện các giao dịch liên quan đến đất theo quy định của Điều 167 Luật Đất đai, bao gồm các hoạt động sau:

Biểu đồ 3. Các hành vi người bị thu hồi đất được và không được thực hiện


Trong sơ đồ kết quả nêu trên, nếu cho người dân thực hiện các giao dịch như: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thì có khả năng người dân sẽ tách thửa đất làm phát sinh thêm số hộ được nhận hỗ trợ, được nhận nền tái định cư. Điều này gây khó khăn trực tiếp cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường và giải phóng mặt bằng bởi kinh phí sẽ tăng cao so với dự kiến ban đầu. Vì vậy, ở đây là cần giải quyết ba yêu cầu: (i) cần phải quy định chi tiết hơn về quyền và nghĩa vụ của người dân kể từ khi có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện; (ii) cần phải bồi dưỡng, tập huấn để cán bộ, công chức, viên chức nắm rõ những quy định này và nắm được những phạm vi “hạn chế” và không hạn chế người dân trong việc thực hiện quyền đó; (iii) cần phải tuyên truyền sâu rộng để người dân có đất bị thu hồi nắm vững quyền và nghĩa vụ của mình một cách chi tiết và hiệu quả.


Những quy định chi tiết sẽ giúp hạn chế được tình trạng người dân do không biết rõ quy định của pháp luật mà có hành vi xây dựng, sửa chữa cải tạo công trình xây dựng trái phép hoặc trồng cây lâu năm nhằm “đón dự án”, đồng thời, phía cơ quan nhà nước, đơn vị làm nhiệm vụ bồi thường và giải phóng mặt bằng và chính quyền địa phương sẽ thuận lợi hơn trong khâu xét tính pháp lý về đất, tài sản gắn liền với đất... Điều quan trọng hơn là những hướng dẫn này nhằm “chính thức hóa” và “pháp lý hóa” các thông tin về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong giai đoạn thông báo thu hồi đất; từ đó, phát huy quyền TCTT một cách có hiệu quả.


Mặt khác, theo quy định tại Điều 68 Luật Đất đai, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cùng với tổ chức dịch vụ công về đất đai (tổ chức phát triển quỹ đất) là đơn vị thực hiện nhiệm vụ bồi thường và giải phóng mặt bằng. Theo các văn bản trước đây[4] và thực tiễn tại các địa phương hiện nay thì có 01- 02 người dân có đất bị thu hồi tham gia vào Hội đồng, đại diện cho tiếng nói của người dân có đất bị thu hồi nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người dân có đất bị thu hồi. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy, có 60% người dân không nắm rõ người đại diện của mình tham gia trong Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, đại diện cho quyền và lợi ích của người có đất bị thu hồi và những người có thiệt hại trong khu vực dự án. Điều này đặt ra yêu cầu phải hướng dẫn chi tiết về thành phần của Hội đồng này để đảm bảo việc áp dụng pháp luật được đồng bộ và thống nhất tại các địa phương, đồng thời bảo đảm có thể đại diện, giám sát việc thực thi quyền TCTT của người dân (Biểu đồ 4).


Biểu đồ 4. Tỷ lệ người dân biết thông tin về “người đại diện’

trong Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Phản ánh về bất cập sau khi TCTT


Quyền được TCTT được thực thi thông qua việc pháp luật phải xác định rõ khi có thắc mắc về thông tin thì có thể liên hệ với chủ thể nào để giải quyết. Thực tế cho thấy, pháp luật Việt Nam hiện nay chưa quy định chi tiết về chủ thể nào sẽ có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại, thắc mắc của người dân trong quá trình Nhà nước thu hồi đất, nghĩa là trước khi quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được ban hành. Kết quả khảo sát cho thấy “UBND cấp xã” và “Tổ chức phát triển quỹ đất” là hai chủ thể được người dân lựa chọn nhiều nhất để gửi các ý kiến, phản ảnh, khiếu nại… trong quá trình Nhà nước thu hồi đất. Điều này có thể được lý giải rằng ngoài tổ chức phát triển quỹ đất là chủ thể trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bồi thường và giải phóng mặt bằng thì vai trò của UBND xã là rất quan trọng. Đây là cơ quan hành chính tại cấp cơ sở đồng thời là chủ thể gần dân nhất. Điều này cũng thể hiện một thông điệp, khi xây dựng quyền TCTT, phải chú ý đến vai trò của UBND cấp xã (Biểu đồ 5).

Biểu đồ 5. Chủ thể tiếp nhận và giải đáp ý kiến, phản ánh, khiếu nại

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Trên cơ sở phân tích kết quả khảo sát về mức độ TCTT trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị sau đây:

Một là, cần ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về quyền TCTT, trong đó có nội dung về tiếp cận “…thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giá đất; thu hồi đất; phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn" theo điểm g khoản 1 Điều 17 Luật TCTT. Hai là, tiếp tục phát huy vai trò của hình thức tổ chức họp dân trong việc thực hiện các quy định về thông báo thu hồi đất và công bố thông tin về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, xem đây là kênh thông tin cốt lõi mang tính chất đồng bộ và chính thức. Mặt khác, cần phải xác định rõ quyền và nghĩa vụ của người dân khi có thông báo thu hồi đất và công khai thông tin về nội dung này, đặc biệt là các quyền liên quan đến việc thực hiện giao dịch theo Điều 167 Luật Đất đai như: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

Ba là, cần ban hành quy định hướng dẫn chi tiết về quyền giám sát của công dân trong lĩnh vực đất đai nói chung để cụ thể hóa Điều 199 Luật Đất đai năm 2013, đồng thời bảo đảm quyền giám sát trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư nói riêng. Đây là cơ sở quan trọng để người dân thực hiện quyền TCTT và có điều kiện để phản hồi ý kiến; trong trường hợp hơn 50% ý kiến người dân trong khu vực có đất bị thu hồi không đồng thuận với dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì phương án đó cần phải được xem xét lại dưới một thủ tục chặt chẽ có sự giám sát của công dân và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên.

Bốn là, cần ban hành văn bản quy định chi tiết về thành phần Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phân định rõ nhiệm, vụ, quyền hạn của từng thành viên của Hội đồng. Đặc biệt, cần quy định chi tiết về vai trò của hộ dân đại diện tham gia vào Hội đồng để đảm bảo quyền TCTT của người dân trong khu vực có đất bị thu hồi thông qua người đại diện của mình; xây dựng cơ chế thông tin về việc công bố công khai thành viên là người dân có đất bị thu hồi, tham gia có tính đại diện trong Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Mặt khác, cần phát huy vai trò của UBND và Trung tâm Phát triển quỹ đất trong việc tiếp nhận và giải đáp các ý kiến, phản ánh, khiếu nại, tố cáo để cung cấp thông tin đầy đủ và tháo gỡ những vướng mắc ngay từ những bước đầu trong quá trình thu hồi đất.

Năm là, phát huy vai trò, nhiệm vụ của cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng, tiếp tục công khai các thông tin về trình tự, thủ tục trong thu hồi đất; kiến nghị mở lớp tập huấn cho cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng, UBND cấp xã và Mặt trận Tổ quốc các cấp, trong đó lồng ghép các nội dung về quyền TCTT trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; tổ chức những buổi trao đổi, giới thiệu với người dân về quyền TCTT trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để người dân nắm rõ và tự giác thực hiện trên cơ sở đồng thuận./.

Tài liệu tham khảo

  1. Đào Trí Úc, Vũ Công Giao (đồng chủ biên): Những điều cần biết về pháp luật tiếp cận thông tin, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2015.

  2. Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định về bổ sung quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (hết hiệu lực).

  3. Kỷ yếu Hội thảo lấy ý kiến chuyên gia của Dự án “Đào tạo nâng cao năng lực và nghiên cứu hoàn thiện quy trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”, ngày 18/10/2017, Dự án MRLG, Đại học Cần Thơ.

  4. Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 2005.

[1] “Đào tạo nâng cao năng lực và nghiên cứu hoàn thiện quy trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Thành phố Cần Thơ”, Dự án MRLG (Phan Trung Hiền Chủ nhiệm), Kỷ yếu Hội thảo, ngày 18/10/2017. [2] Phỏng vấn Ông Phạm Duy Tín, Giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất TP.Cần Thơ, tháng 10/2017. [3] Phan Trung Hiền - Châu Hoàng Thân, tham luận: Trình tự, thủ tục thu hồi đất - góc nhìn quy định pháp luật và ý kiến chuyên gia, kỷ yếu Hội thảo lấy ý kiến chuyên gia của Dự án “Đào tạo nâng cao năng lực và nghiên cứu hoàn thiện quy trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”, ngày 18/10/2017, Đại học Cần Thơ. [4] Điều 25 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định về bổ sung quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.


Nguồn: Tạp chí Lập pháp

Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 23 (399), tháng 12/2019.